Skip to main content

Chỉ số Giá tiêu dùng

Theo công bố của Tổng cục Thống Kê, mức tăng CPI của cả nước trong tháng 4 là 3,32% so với tháng 3/2011, lũy kế từ đầu năm là 9,64%. Như vậy, chỉ trong 4 tháng đầu năm 2011, CPI đã hoàn thành vượt mức kế hoạch CPI cả năm 7% theo Nghị quyết 08 của Quốc hội. Dự báo CPI cả năm sẽ ở mức 14%.

Thông thường CPI sẽ tăng cao vào tháng 2 hàng năm và thường giảm vào tháng 3 và tháng 4. Việc CPI tăng cao trong tháng 4 có nhiều nguyên nhân trong đó có việc tăng giá xăng dầu, điện và ảnh hưởng của việc kìm chế giá những tháng trước tết âm lịch. Đây là một thách thức lớn đối với các chính sách mà NHNN đang thực hiện nhằm tăng sức hấp dẫn của VND.

                                                            (Nguồn: Tổng cục Thống kê)


Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 4/2011 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 14,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14,2% so với cùng kỳ năm 2010.
Xuất nhập khẩu: Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 4/2011 ước tính đạt 7,3 tỷ USD, giảm 2% so với tháng trước và tăng 33,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 26,9 tỷ USD, tăng 35,7% so với cùng kỳ năm trước. Nhập siêu tháng 4/2011 ước tính 1,4 tỷ USD, bằng 19,2% kim ngạch hàng hóa xuất khẩu. Nhập siêu bốn tháng đầu năm là 4,9 tỷ USD, bằng 18,2% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu. Mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn nhất trong 4 tháng đầu năm là Dệt may với kim ngạch xuất khẩu đạt 3,92 tỷ USD, tuy nhiên nguyên liệu cho ngành này cũng là nhóm mặt hàng có giá trị nhập khẩu cao trong 4 tháng đầu năm: 3,5 tỷ USD (sau Xăng dầu và máy móc thiết bị). Tình hình này có thể sẽ được cải thiện từ tháng 07/2011 khi nhà máy sản xuất Xơ sợi Polyester Đình Vũ được đưa vào hoạt động, nhà máy có công suất 175.000 tấn sản phẩm/năm, có thể đáp đứng được 40% nhu cầu nguyên liệu có ngành may mặc của Việt Nam. Điều này giúp ngành Dệt may không những chủ động được một phần nguồn nguyên liệu từ trong nước mà còn góp phần gia tăng giá trị của sản phẩm dệt may và góp phần giảm nhập siêu cho nền kinh tế. 

                                                          (Nguồn: Tổng cục Thống kê)

Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến 22/4/2011 đạt 4024,1 triệu USD, bằng 52,2% cùng kỳ năm 2010, bao gồm: Vốn đăng ký 3205,4 triệu USD của 262 dự án được cấp phép mới (giảm 54,9% về vốn và giảm 41,3% về số dự án so với cùng kỳ năm trước); vốn đăng ký bổ sung 818,7 triệu USD của 88 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện bốn tháng đầu năm ước tính đạt 3.620 triệu USD, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm 2010.
Tỷ giá: Ngày 09/04/2011, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Quyết định số 750/QĐ-NHNN điều chỉnh tỷ lệ dữ trữ bắt buộc của tiền gửi bằng ngoại tệ có kỳ hạn dưới 12 tháng từ 4% lên 6% và có kỳ hạn trên 12 tháng từ mức 2% lên mức 4%.

                                                   Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Cũng tại ngày 09/04/2011 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 09/2011/TT-NHNN quy định mức trần lãi suất huy động tiền gửi bằng USD là 3%/năm.
Tăng dự trữ bắt buộc và áp đặt trần lãi suất bằng ngoại tệ dưới 3% mục đích làm giảm sự hấp dẫn của việc nắm giữ ngoại tệ. Hiện tại, lãi suất giữa tiền VND và USD chênh lệch là 11%. Tuy nhiên, như trình bày ở phần trên CPI 4 tháng đầu năm đã tăng 9,32%, VND hoàn toàn có khả năng mất giá hơn 11% trong năm nay. Do đó để thực sự có thể giảm sự hấp dẫn của ngoại tệ mà cụ thể là USD, giảm quá trình đầu cơ và nắm giữ USD rất có thể trong những tháng còn lại của năm 2011, NHNN phải có biện pháp mạnh hơn nữa. Khi đó người dân và doanh nghiệp sẽ bán ngoại tệ cho NHTM. NHNN cũng có thể mua ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối.
Lãi suất: Dưới tác động của Thông tư 04/2011/TT-NHNN ngày 10/03/2011 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định các khoản tiền rút vốn trước hạn chỉ được hưởng lãi suất không kỳ hạn thay vì để các NHTM tự quyết như trước, ngay trong những ngày đầu tháng 4/2011, thị trường bắt đầu chứng kiến cuộc đua tăng lãi suất tiền không kỳ hạn của hàng loạt NHTM. Lãi suất huy động không kỳ hạn bị đẩy lên những mức rất cao (9-10%) thay cho mức 2-3% trước đây. Lãi suất có kỳ hạn vẫn được khống chế ở mức trần 14%/năm, tuy nhiên trên thực tế theo những nguồn tin không chính thức lãi suất huy động có thể ở mức 16% đến 17%/năm. Vấn đề thanh khoản của hệ thống NHTM rất căng thẳng, mặc dù Lãi suất cho vay từ 22% đến 26% song một số NHTM đã ngừng cho vay.
Thu chi Ngân sách: Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/3/2011 ước tính bằng 21,2% dự toán năm. Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/3/2011 ước tính bằng 18,9% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển bằng 21,4%; chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính bằng 19,8%; chi trả nợ và viện trợ bằng 19,5%.
Theo báo cáo mới nhất từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước tính đến tháng 4/2011 đã đạt 56,6 nghìn tỷ đồng, bằng 30,2% kế hoạch năm, cao hơn nhiều so với các con số tương ứng của năm 2010 là 33,4 nghìn tỷ đồng và 26,7%; năm 2009 là 28,8 nghìn tỷ đồng và 25,5%; năm 2008 khoảng 23,54 nghìn tỷ đồng và 24%.
Tăng trưởng tín dụng: Theo một nguồn tin không chính thức, tăng trưởng tín dụng đến cuối tháng 3/2011 đã vượt 4,81%. Nếu tính bình quân theo tháng và không loại trừ khoảng thời gian hoạt động cho vay của các ngân hàng giảm mạnh vào Tết Nguyên đán, chỉ tiêu này vẫn nằm trong khống chế của Ngân hàng Nhà nước, kiểm soát tăng trưởng tín dụng dưới 20% trong năm nay.
Tuy nhiên, so với các con số tương ứng của năm 2010 (tăng 3,34%) và năm 2009 (2,67%), tăng trưởng tín dụng quý 1/2011 đã cao hơn khá nhiều. Hơn nữa, nếu xét về lượng tiền tuyệt đối thông qua cung tín dụng quý 1/2011 (khoảng 110.000 tỷ đồng) sẽ vượt xa so với nhưng năm trước do mức tăng trưởng tín dụng được tính trên tổng dư nợ tín dụng đã rất cao trước đó.
Nhận xét: Một loạt các chỉ tiêu trong tháng 4 cho thấy tình hình kinh tế vỹ mô vẫn chưa được cải thiện, hơn nữa những bất ổn dường như còn có dấu hiệu gia tăng. Các biện pháp mang tính hành chính như áp đặt trần lãi suất (VND, USD), hạn chế tăng trưởng tín dụng, dừng, giãn hoãn tiến độ các dự án đầu tư chỉ là những biện pháp mang tình thế. Thâm hụt ngân sách kéo dài, đầu tư của doanh nghiệp nhà nước dàn trải, kém hiệu quả, tăng trưởng tín dụng, phát triển theo chiều rộng trong những năm qua mới chính là nguyên nhân căn bản của những bất ổn kinh tế vỹ mô hiện tại. Việc chạy theo mục tiêu tăng trưởng, vốn đầu tư lớn nhưng sử dụng kém hiệu quả thì hậu quả tất yếu là lạm phát, mất giá VND. Nhìn chung Chính phủ cũng đã có một số biện pháp để giải quyết gốc của vấn đề, đồng thời cũng có thể coi là giai đoạn bắt đầu của quá trình tái cấu trúc nền kinh tế.
Trong khi chờ đợi những biện pháp của Chính Phủ phát huy tác dụng. Trong ngắn hạn nền kinh tế trước hết bị ảnh hưởng nặng nề từ chính sách thắt chặt tiền tệ, các doanh nghiệp tư nhân nhỏ gặp khó trước hết khi lạm phát khiến giá cả hầu hết các nguyên liệu đầu vào đều tăng, thêm vào doanh nghiệp không huy động được vốn thì hậu quả tất yếu là đình trệ trong sản xuất kinh doanh. Hiện tại chưa có thống kê chính thức về số lượng, quy mô các doanh nghiệp đã giải thể phá sản trong năm nay. Thống kê kết quả kinh doanh Quý 1/2011 của các doanh nghiệp niêm yết cho thấy có tới 54% doanh nghiệp có lợi nhuận quý 1/2011 sụt giảm so với cùng kỳ năm trước. Không tính các công ty chứng khoán, toàn thị trường có 30 trong tổng số 393 doanh nghiệp bị thua lỗ trong quý 1/2011. ROE quý 1 trung bình của các doanh nghiệp niêm yết cũng chỉ còn 3,89%, giảm mạnh so với mức 4,54% của cùng kỳ năm trước. Nếu chính sách thắt chặt kéo dài trong Quý 2 và Quý 3 thì khả năng dẫn tới suy thoái cao. Khi lợi nhuận của doanh nghiệp giảm, sẽ khiến mức P/E tăng, tức là cổ phiếu đã đắt lên cho dù giá không tăng. Kết hợp với dòng tiền vào thị trường kém, thị trường chứng khoán sẽ tiếp tục đà suy giảm. Thị trường sẽ giảm đến bao giờ? Câu trả lời phải phụ thuộc vào sự thành công từ các biện pháp tái cấu trúc nền kinh tế của Chính phủ, nhà đầu tư vẫn phải chờ đợi tín hiệu tích cực từ kinh tế vỹ mô.